Saturday, 19 May 2018
Mẹ Việt Ở Nhật

Đôi nét về học phí nhà trẻ ở Nhật

Xin cho con đi trẻ ở Nhật là vấn đề rất rất đau đầu với không ít mẹ Việt ở Nhật. Không xin được nhà trẻ cho con đồng nghĩa với không thể đi làm, phải ở nhà để tự trông con. Mình cũng đã thấm cái cảnh quanh quẩn cả ngày ở nhà một mẹ một con bù đầu với bỉm sữa. Thực sự là rất stress. May mắn là Thỏ đã xin đi học được giữa chừng (途中入園) nên mình có thể quay trở lại làm việc. Cuộc sống tuy bận rộn “không kịp thở” nhưng bù lại giảm bớt căng thẳng. Mẹ có thể đi làm trở lại cho khỏi “lú”. Còn con cũng được đi học và có thêm nhiều bạn mới.

Xin được đi học đã khó, đến khi vào học rồi thì vấn đề học phí nhà trẻ ở Nhật cũng đau đầu không kém ^^! Cùng tìm hiểu thêm về học phí nhà trẻ ở Nhật nhé.

hoc-phi-nha-tre-o-nhat

Học phí nhà trẻ ở Nhật tính dựa trên tiêu chí nào?

Có 4 yếu tố chính được dùng làm căn cứ tính học phí nhà trẻ ở Nhật.

Tổng thu nhập của hộ gia đình

Là tổng cộng thu nhập của toàn bộ thành viên trong hộ gia đình. Nếu là single-mom hay single -father thì chỉ tính riêng thu nhập của bố/mẹ đó. Trường hợp gia đình đủ vợ-chồng thì sẽ tính tổng thu nhập của cả vợ và chồng. Trước tiên, hãy cùng tìm hiểu sự khác nhau giữa 所得収入. Hai từ này cùng có nghĩa là “thu nhập”. Trường hợp tự mình làm chủ kinh doanh thì 所得 chính là tiền còn lại sau khi lấy doanh thu 売上(収入)trừ đi chi phí bỏ ra. Trường hợp nhân viên công ty (会社員) thì 所得 là khoản về tay sau khi đã trừ các khoản khấu trừ. (※収入から給与所得控除を引いたもの)

Thuế thị dân là quy chuẩn tính học phí

Học phí nhà trẻ ở Nhật được quy định dựa trên một phần tiền thuế thị dân (住民税). Mà thuế thị dân ở Nhật được tính toán dựa vào tổng thu nhập của hộ gia đình (世帯所得). Từ trước cho đến 2014, thuế thu nhập (所得税) được dùng làm tiêu chuẩn quy định học phí. Tuy nhiên, kể từ tháng 4/2015, luật thay đổi, quy định thuế thị dân làm tiêu chuẩn tính học phí. Thuế thị dân của mỗi cá nhân đều được các cơ quan chính quyền nắm rõ. Vì vậy kể cả cá nhân không làm thủ tục khai báo thuế cuối năm (確定申告) thì vẫn có thể định được mức học phí cần đóng.

Vậy thì, tổng thu nhập của gia đình được quy định như thế nào?  Hãy tham khảo bảng bên dưới. “Quy chuẩn mức tiền tối đa (theo tháng) người sử dụng phải chi trả theo quy định nhà nước”.  Theo đó, nhà nước quy định 8 mức thu học phí theo từng kiểu hộ gia đình. Cụ thể gồm: Hộ gia đình được bảo hộ sinh kế, Hộ gia đình được miễn thuế địa phương, Hộ gia đình bị tính thuế dựa trên thu nhập (6 mức). Thuế thị dân của gia đình thuộc mức nào sẽ chịu tiền học phí tương ứng. Tức là, dù có học cùng trường cùng lớp thì tiền học phí phải đóng cũng khác nhau tùy theo thu nhập của bố mẹ. Hay cụ thể hơn là theo mức thu nhập chịu thuế trong thuế thị dân.

học phí nhà trẻ ở Nhật
Nguồn: http://benesse.jp

Những bé nào đạt 3 tuổi nhưng giữa năm tài chính thì vẫn tính theo mức 3号認定 cho đến hết năm đó.

Thỏ nhà mình đang học lớp 0 tuổi, mỗi tháng học phí 44,500 yên (hơn 9 triệu VND) T.T

Địa phương

Bảng trên chỉ là quy chuẩn chung của Nhà nước. Các địa phương sẽ dựa trên bảng này để tự đưa ra mức chuẩn của mình. Do đó, tiền học phí cũng chênh lệch khác nhau tùy từng vùng.

Về cơ bản, các địa phương có điểm chung là tính học phí nhà trẻ theo từng mức tùy theo tiền thuế thị dân. Tuy nhiên mức tiền làm căn cứ đó sẽ khác nhau tùy nơi.

Thử so sánh tiền học phí năm 2015 của Shinjuku (Tokyo), Kobe (Hyogo) và Fukuoka.

học phí nhà trẻ ở Nhật
Nguồn: http://benesse.jp

Để ý thì sẽ thấy các tiêu chí cụ thể rất khác nhau giữa các vùng. 23 quận thuộc Tokyo có xu hướng chia thành nhiều mức rất cụ thể. Hai địa phương còn lại thì phân cấp ít hơn.

Độ tuổi và số lượng trẻ

Dựa vào các bảng trên, quy định mức học phí trẻ dưới 3 tuổi cao hơn độ tuổi từ 3 đổ lên. Theo chuẩn Nhà nước, cứ 3 trẻ 0 tuổi sẽ có 1 cô giáo phụ trách. Cứ 6 trẻ từ 1~2 tuổi thì có 1 cô giáo phụ trách. Và cứ 20 trẻ 3 tuổi mới cần 1 cô giáo phụ trách. Trẻ càng nhỏ thì càng cần nhiều giáo viên hơn, cho nên học phí cũng sẽ cao hơn.

Ngoài ra, tùy vào số lượng trẻ mức học phí cũng sẽ thay đổi. Trường hợp một hộ gia đình có từ 2 con trở lên cùng đi học nhà trẻ, từ con thứ 2 học phí sẽ được tính rẻ hơn. Nhà nước quy định con thứ 2 sẽ được giảm 1/2 học phí. Ở bảng ở mục Địa phương, con số trong ngoặc chính là số tiền ứng với con thứ 2 trong gia đình. Từ con thứ 3 trở đi sẽ được miễn học phí.

Thời gian trông trẻ

Học phí sẽ khác nhau tùy thuộc vào thời gian trông trẻ. Những gia đình được công nhận là cần trông trẻ (保育が必要) lại tiếp tục được chia làm 2 nhóm. Nhóm bố mẹ làm Fulltime 「保育標準時間」(Tối đa 11h trông trẻ). Nhóm thứ 2 là bố mẹ chủ yếu làm Part-time「保育短時間」(tối đa 8h trông trẻ).Với cha mẹ thuộc nhóm 2, quy định số giờ làm trong tháng khoảng từ 48~64 giờ làm. Tùy nhóm bố mẹ mức học phí sẽ khác nhau.

Ngoài ra, trường hợp bố mẹ làm Full-time, nếu đón trẻ trong khung giờ trông trẻ thông thường mà nhà trẻ quy định thì không mất thêm phí ngoài giờ. Ngược lại, có thể phát sinh phí trông ngoài giờ tùy thời gian bố mẹ đón. Như Thỏ nhà mình nếu đón trước 18h thì không phải đóng thêm gì. Còn đón muộn hơn thì 300 yên/ngày hoặc 2900 yên/tháng. Nhà mình đóng thêm 2900 yên/tháng.

 

 

 

 

 

 

 

Bình Luận

Comments

Post Comment